Ý kiến thăm dò

Bạn quan tâm đến chuyên mục nào trên trang?

Truy cập

Hôm nay:
550
Hôm qua:
2564
Tuần này:
9451
Tháng này:
31652
Tất cả:
1395362

 

Trong công cuộc đổi mới, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hoằng Hóa tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, nỗ lực phấn đấu vươn lên, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp và ngành nghề. Đặc biệt, 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXV nhiệm kỳ 2010-2015, trong điều kiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ ngày càng được nâng lên; tình hình chính trị, xã hội ổn định; các nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển ngày càng tăng. Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được vận dụng phù hợp vào tình hình thực tiễn của địa phương đã tạo được sự đồng thuận, nhất trí cao của các tầng lớp nhân dân trong huyện, cụ thể:

 

I. Thành tựu về phát triển KT-XH của huyện trong những năm qua.

 

1. Kinh tế phát triển khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực.

 

1.1. Tốc độ tăng giá trị sản xuất cao và ổn định.

Tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 18,57% và mục tiêu sau khi điều chỉnh địa giới hành chính (17,94%). Trong đó, giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản bình quân tăng 7,23%; công nghiệp - xây dựng tăng 20,46%; dịch vụ tăng 25,76%.

 

1.2. Cơ cấu giá trị sản xuất chuyển dịch đúng hướng và tích cực.

Cơ cấu giá trị sản xuất tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông - lâm - thủy sản. Năm 2010: nông - lâm - thủy sản chiếm 28%, công nghiệp - xây dựng 44%, dịch vụ 28%, đến 2015 ước đạt tương ứng 19% - 46% - 35%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 10,8 triệu đồng, đến năm 2015 ước đạt 21 triệu đồng.

Tổng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 170.541 triệu đồng. Các mô hình chăn nuôi theo hướng công nghiệp - trang trại tiếp tục duy trì. Hiện nay, toàn huyện có 181 trang trại, trong đó có 130 trang trại hoạt động hiệu quả.

 

          Sản xuất thủy sản tăng trưởng khá, tổng sản lượng năm 2015 ước đạt 19.000 tấn, tăng 2.000 tấn so với mục tiêu đề ra. Giá trị sản xuất bình quân hàng năm ước đạt 260.302 triệu đồng (với tỷ trọng: khai thác 59,6%; nuôi trồng 40,4%). Hiện có 1.247 phương tiện khai thác thủy sản. Tổng diện tích nuôi trồng là 1.910,9 ha. Các cơ sở hạ tầng phục vụ dịch vụ nghề cá như: bến cá Hoằng Trường, khu neo đậu tàu thuyền tránh, trú bão tại Hoằng Phụ  phục vụ nuôi trồng thủy sản theo hướng phát triển bền vững được đầu tư xây dựng.

09.11.2016.16.JPG

Nuôi trồng thủy sản Hoằng Hóa phát triển theo hướng bền vững

 

          Công nghiệp - xây dựng phát triển với tốc độ cao, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất: Tổng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2011-2015 đạt 1.622 tỷ đồng. Năm 2015, cơ cấu giá trị sản xuất ước đạt 46%. Sản xuất công nghiệp, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp gắn với quy hoạch phát triển nông thôn mới đã phát huy hiệu quả. Sản phẩm công nghiệp chủ yếu được duy trì như: bóng các loại, dụng cụ thể thao, sản phẩm may, lợn sữa đông lạnh, gỗ chế biến, vật liệu xây dựng, bao bì, gạch tuynel, tấm lợp ploximăng, phân bón. Giá trị sản xuất công nghiệp kinh tế tư nhân tăng nhanh, đóng góp đáng kể trong việc nâng tỷ trọng trong ngành công nghiệp - xây dựng. Điển hình trong phát triển công nghiệp như: Công ty DELTA (SX dụng cụ thể thao), Công ty Hoa Mai (thịt lợn xuất khẩu), Doanh nghiệp Tiến Nông (SX phân bón)...

 09.11.2016.17.JPG

Bóng xuất khẩu của Cty Delta

          Dịch vụ - thương mại phát triển đa dạng, thu ngân sách vượt mục tiêu đề ra. Giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu đến năm 2015 đạt 48 triệu USD. Dịch vụ - thương mại phát triển ở tất cả các xã, thị trấn; quy mô, hình thức kinh doanh đa dạng, mở ra nhiều dịch vụ mới như: thương mại du lịch, vận tải, tài chính, ngân hàng... Dịch vụ vận tải cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển và phục vụ đời sống nhân dân về khối lượng hàng hóa, vận tải hành khách. Các hoạt động thương mại trên thị trường tiếp tục diễn ra sôi động với nguồn hàng phong phú, mẫu mã ngày càng đổi mới, hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Xây dựng thương hiệu một số sản phẩm hàng hóa, trong đó tập trung xây dựng thương hiệu rượu Ngọc Chuế xã Hoằng Yến và nước mắm Khúc Phụ xã Hoằng Phụ.

09.11.2016.18.JPG

 

Một góc thị trấn Bút Sơn sầm uất

 

 

          1.3. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ, huy động vốn  đầu tư tăng mạnh,  phục vụ tốt cho đầu tư phát triển trên địa bàn.  

Tổng nguồn vốn đầu tư 5 năm (2011- 2015) ước đạt 15.011 tỷ đồng, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước các cấp trên địa bàn 4.840 tỷ đồng chiếm 32,24% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn. Huyện đã chủ động xây dựng cơ chế huy động các nguồn lực đầu tư, cân đối vốn đầu tư theo kế hoạch được giao, rà soát, đánh giá, lựa chọn những dự án, chương trình thực sự cấp thiết để đầu tư xây dựng như: nông thôn mới, phát triển hạ tầng giao thông, phát triển kinh tế biển, giáo dục, y tế tuyến cơ sở... Huy động vốn để thực hiện các dự án, các công trình trọng điểm như: đường cứu hộ cứu nạn (hơn 66 tỷ đồng), cải tạo sông Gòng đoạn qua thị trấn Bút Sơn (42 tỷ đồng), bãi chôn lấp rác thải thị trấn Bút Sơn và khu du lịch Hải Tiến (hơn 54 tỷ đồng), Trung tâm hỗ trợ nông thôn tại 9 xã phía Bắc huyện từ nguồn vốn Jica (gần 60 tỷ đồng) và hệ thống đê sông, đê biển (338 tỷ đồng). Ngoài nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, huyện tăng cường quảng bá, kêu gọi, thu hút vốn từ nguồn xã hội hóa, các doanh nghiệp tham gia xây dựng khu du lịch sinh thái biển Hải Tiến, các công trình văn hóa, y tế: tượng đài Lão quân Hoằng Trường, bệnh viện đa khoa huyện, các trạm y tế xã… góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện.

1.4. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng.

          Các công trình, dự án từ nguồn vốn Trung ương, tỉnh và ngân sách huyện được đầu tư xây dựng kịp thời, đúng trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng cho phát triển KT - XH gồm các dự án do tỉnh và Trung ương làm chủ đầu tư như: đường quốc lộ 1A giai đoạn 1, quốc lộ 1A đoạn tiểu dự án 2, cầu qua sông Lạch Trường, cầu Bút Sơn và đường 2 đầu cầu, cải tạo, sửa chữa đường tránh thị trấn Bút Sơn, cải tạo nâng cấp hệ thống đê và nạo vét sông Lạch Trường, hệ thống đê sông, đê biển… Các dự án do huyện làm chủ đầu tư như: đê tả sông Mã từ Hoằng Khánh đến chân cầu Hàm Rồng; đê đông tây sông Cung; các tuyến đường giao thông Kim - Phượng, Xuân - Khánh; đường ra Trung tâm quảng trường khu du lịch sinh thái biển Hải Tiến; đường 28-22m khu du lịch; đường Lý - Quỳ; đường Trường - Phụ; đường Đò Bè - Phượng Khê; Hoằng Thịnh đi quốc lộ 1A; chỉnh trang vỉa hè, cây xanh thị trấn Bút Sơn; cải tạo Nghĩa trang liệt sỹ; xây dựng sân Tennis huyện; sửa chữa nhà khối đoàn thể; xây dựng trường Tiểu học Hoằng Giang; nhà lớp học đa năng trường THPT Lương Đắc Bằng và công sở các xã trong huyện.

Hệ thống giao thông nông thôn, giao thông liên xã, liên huyện và các tuyến quốc lộ qua địa bàn được cải tạo, mở rộng, nâng cấp đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại của nhân dân. Lĩnh vực đầu tư xây dựng, phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, làng nghề được duy trì, các công trình kiên cố hóa trường, lớp học, nước sạch, trạm y tế được quan tâm chỉ đạo.

                                                                           09.11.2016.19.JPG

 Cầu Bút Sơn đã thông xe

09.11.2016.20.JPG

Tuyến đường đường tránh thành phố

1.5. Lĩnh vực Tài nguyên - môi trường có chuyển biến tích cực: Công tác quản lý khai thác, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên; quy hoạch, quản lý sử dụng đất đai tiếp tục được quan tâm. Hoàn thành việc lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020, kế hoạch sử dụng đất 05 năm (2011-2015) cấp huyện, xã và công khai theo quy định. Tập trung giải phóng mặt bằng các dự án trọng điểm đảm bảo đúng kế hoạch, góp phần thu hút mạnh mẽ đầu tư vào địa bàn huyện. Chỉ đạo các xã điều tra, tổng hợp tình hình thu gom, xử lý chất thải công nghiệp, làng nghề và sinh hoạt. Thường xuyên kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm tình trạng khai thác, tập kết kinh doanh khoáng sản trái phép.

2. Văn hóa - xã hội ngày càng phát triển theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, an sinh xã hội cơ bản được đảm bảo.

2.1. Văn hoá thông tin, thể dục thể thao, du lịch được đẩy mạnh.

Các hoạt động văn hoá, thông tin đã tập trung tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; các ngày lễ, kỷ niệm của quê hương, đất nước kịp thời đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nâng cao chất lượng hoạt động của các làng văn hóa, thực hiện tốt nếp sống văn minh trong việc cưới, tang, lễ hội. Các hoạt động văn nghệ quần chúng, trò chơi, trò diễn tiếp tục được duy trì. Huyện có 88 di tích (15 di tích cấp quốc gia, 73 di tích cấp tỉnh); công tác xây dựng, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, cách mạng được quan tâm.

Tổ chức thành công Đại hội Thể dục thể thao toàn huyện, tham gia Đại hội Thể dục thể thao toàn tỉnh lần thứ VII, kết quả xếp thứ nhì toàn tỉnh với 22 HCV, 14 HCB và 10 HCĐ. Phong trào thể dục - thể thao quần chúng, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ngày càng phát huy tác dụng thiết thực.

(Ảnh )

Bờ biển Hoằng Hóa kéo dài từ cửa Lạch trường (sông Lạch trường) đến cửa Lạch trào (sông Mã) dài 12 km, đi qua địa phận 5 xã của huyện. Vùng này có dãy núi Linh Trường sát biển và 2 cửa lạch lớn (cửa Lạch Trào - sông Mã và Lạch Trường - sông Lạch Trường) ăn sâu vào đất liền hình thành nên một diện tích nuôi trồng thủy sản lớn. Theo khảo sát, đánh giá khoa học rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái biển, nghỉ dưỡng. Phát huy lợi thế đó từ năm 2003 huyện đã công bố quy hoạch khu du lịch sinh thái biển và sau 9 năm kêu gọi xúc tiến đầu tư, đến năm 2012 khu du lịch sinh thái biển Hải Tiến chính thức được khai trương đưa vào hoạt động, sau 5 năm từ 2012 đến 2016 sự phát triển của khu du lịch Hải Tiến với tốc độ nhanh cả về đầu tư cơ sở hạ tầng, khách sạn, các hoạt động vui chơi giải trí đến các dịch vụ hữu ích khác cho khách du lịch, đồng thời phát triển các sản phẩm du lịch cao cấp, sản phẩm du lịch mới, sản phẩm truyền thống, đồ thủ công mỹ nghệ. Số lượt khách trung bình hằng năm tăng gần 60%, đến nay khu du lịch Hải Tiến thu hút được 550 nghìn lượt khách đến tham quan, nghỉ dưỡng, hằng năm giải quyết việc làm cho hơn 500 lao động địa phương.

09.11.2016.21.JPG
 

 09.11.2016.22.JPG
Một góc biển sinh thái Hải-Tiến nhìn từ trên cao 

2.2. Về giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ: Tập trung phát triển sự nghiệp giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/HU của BCH Đảng bộ huyện về phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020. Sự nghiệp GD&ĐT của huyện những năm qua có nhiều tiến bộ rõ nét. Quy mô và mạng lưới trường lớp ngày càng đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân. Chất lượng dạy và học được nâng cao. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS hàng năm đạt 98%, THPT đạt 99% trở lên; kết quả thi học sinh giỏi các cấp luôn nằm trong tốp 3 huyện dẫn đầu của tỉnh. Tỷ lệ học sinh đậu vào các trường đại học liên tục tăng. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đã đáp ứng cơ bản về số lượng và chất lượng, từng bước giải quyết được tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ ở một số bộ môn, không còn giáo viên phải đi nghĩa vụ vùng thiếu như những năm trước đây. 100% các xã, thị trấn có cán bộ phụ trách các trung tâm học tập cộng đồng và đã đi vào hoạt động có hiệu quả. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia được quan tâm. Đến hết năm 2015, có 90/136 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 66,2%, vượt kế hoạch đề ra (60%). Tỷ lệ phòng học kiên cố hóa, cao tầng toàn huyện đạt 100%, hoàn thành mục tiêu đề ra. Công tác xã hội hóa giáo dục được tăng cường và phát huy hiệu quả. Phong trào khuyến học, khuyến tài tiếp tục được đẩy mạnh, thu hút nhiều gia đình, dòng họ, tập thể, cá nhân tham gia.

 09.11.2016.23.JPG

Trường THPT Lương Đắc Bằng trong ngày khai giảng năm học mới
2.3. Y tế, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được quan tâm. Công tác khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực. Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được tăng cường. Một số kỹ thuật chuyên sâu trong khám, chữa bệnh được chuyển giao và thực hiện thành công tại bệnh viện. Thành lập mới 01 bệnh viện đa khoa và một số phòng khám ngoài công lập. Đã chú trọng hoạt động quản lý ngành nghề y, dược tư nhân. Công tác y tế dự phòng, an toàn thực phẩm, nước sạch, vệ sinh môi trường được quan tâm chỉ đạo chặt chẽ hơn. Hầu hết các chỉ tiêu về y tế, chăm sóc sức khỏe, dân số - kế hoạch hóa gia đình đều đạt và vượt kế hoạch, trong đó: Tỷ lệ xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020 là 25/43 (58,1%); Tỷ lệ bác sỹ/vạn dân đạt 4,5 bác sỹ; 37/43 (86%) trạm y tế xã có bác sỹ; 372/372 thôn làng có cán bộ y tế hoạt động.

Triển khai thực hiện Chỉ thị số 18-CT/HU và Kế hoạch số 244/KH-UBND về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2013-2015. Thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, phụ nữ có thai và sau sinh. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm còn 11%, 100% số cháu trong độ tuổi được tiêm phòng đủ loại vác xin, 100% bà mẹ có thai được khám định kỳ. Công tác DS - KHHGĐ có chuyển biến tích cực, chất lượng dân số từng bước được nâng cao.

          2.4.  Thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Kinh tế - xã hội phát triển, đời sống của các tầng lớp nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo hàng năm giảm 2,34%, hạn chế tối đa hiện tượng tái nghèo. Bình quân hằng năm đào tạo nghề cho 2.400 lao động, giải quyết việc làm cho 4.500 lao động, xuất khẩu lao động hơn 432 người.

Phát động và hưởng ứng sâu rộng các phong trào “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, các phong trào vì người nghèo, từ thiện, nhân đạo, các chính sách xã hội, chăm lo đối với những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn; hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa cho 195 đối tượng với tổng kinh phí 4.808 triệu đồng; cấp hàng trăm xe lăn, thẻ khám, chữa bệnh miễn phí cho đối tượng trẻ em, người khuyết tật, người nghèo, các cụ cao tuổi; bảo hiểm xã hội được mở rộng cho các đối tượng tham gia.

II. Định hướng phát triển KT-XH đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

          Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy truyền thống quê hương và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; năng động, sáng tạo, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, du lịch, thương mại, dịch vụ. Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh. Chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển văn hóa - xã hội theo hướng chuẩn hóa, xã hội hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Phấn đấu đến năm 2020, Hoằng Hóa trở thành huyện tiên tiến của tỉnh.

09.11.2016.25.JPG

 Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXVI

          1. Một số mục tiêu chủ yếu đến năm 2020.

          * Về kinh tế:

          - Tốc độ tăng GTSX bình quân hàng năm:                       14,5%

     + Nông, lâm, thuỷ sản:                                           3,13%

+ Công nghiệp - xây dựng:                                     17,8%

+ Dịch vụ:                                                              17,71%

- Cơ cấu giá trị sản xuất:

+ Nông, lâm, thuỷ sản:                                           16%

+ Công nghiệp - xây dựng:                                     48 %

+ Dịch vụ:                                                              36%

- Sản lượng lương thực có hạt bình quân hằng năm: 100.000 tấn trở lên.

- Sản lượng thuỷ sản:                                                       22.000 tấn.

- Giá trị sản phẩm/ha đất trồng trọt và NTTS năm 2020:    150 triệu đồng

(Trong đó, trồng trọt: 144 triệu đồng, nuôi trồng thủy sản: 180 triệu đồng).

- Tổng giá trị xuất khẩu:                                                    90 triệu USD.

- Tổng huy động vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2016-2020: 14.500 tỷ đồng.

- Thu nhập bình quân đầu người/năm:                                        41 triệu đồng.

- Tỷ lệ tăng thu ngân sách hàng năm:                                15%.

- Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới:                                      70%.

- Tỷ lệ đô thị hóa phấn đấu đạt:                                                 35%.

- Tỷ lệ đường giao thông trên địa bàn (không tính đường quốc lộ và tỉnh lộ) được cứng hóa:                                                                          95%.

          * Về văn hóa - xã hội:

- Tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm:                       0,65%.

- Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia:                                             85%.

- Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động:            25%.

          - Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế:                 80%.

          - Tỷ lệ trẻ em dưới 05 tuổi bị suy dinh dưỡng:                  12%.

          - Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hằng năm:                     2% trở lên.

          - Tỷ lệ lao động qua đào tạo:                                                     70%.

          - Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên tổng số dân đạt:           80% trở lên.

          - Số người được giải quyết việc làm mới trong 5 năm:       15.000 người.

          - Tỷ lệ nhà ở kiên cố:                                                                75%.

          - Tỷ lệ xã, thị trấn đạt tiêu chí kiểu mẫu theo lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh:                                                                                                     10% trở lên.

          * Về môi trường:

          - Tỷ lệ che phủ rừng:                                                                 7,5%.

          - Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch:                               95%.

- Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh:              95%

          2. Nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu

          2.1. Phát triển kinh tế với tốc độ cao và bền vững; tăng nhanh giá trị công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

          - Đẩy mạnh phát triển kinh tế trên cơ sở xây dựng quy hoạch theo từng vùng, cụm kinh tế - xã hội phù hợp với lợi thế của từng vùng.

          - Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo bước đột phá trong  nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao giá trị, hiệu quả trên một đơn vị diện tích.

          - Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh phù hợp với nhu cầu thị trường; tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.

          - Đẩy mạnh phát triển, mở rộng các loại hình thương mại, du lịch và các ngành nghề dịch vụ.

          - Đổi mới công tác quản lý tài chính, thực hành tiết kiệm; đảm bảo nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất của nhân dân và doanh nghiệp.

          - Tập trung quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên, khoáng sản; làm tốt công tác bảo vệ môi trường.

          2.2. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, huy động các nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, nâng cao chất lượng các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội.

          - Tiếp tục rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống các quy hoạch, cơ chế, chính sách cho phù hợp với thực tế và cơ chế thị trường.

- Thực hiện đồng bộ, linh hoạt các giải pháp phù hợp để huy động các nguồn vốn từ nội lực và ngoại lực, đồng thời sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.

- Tập trung giải quyết những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục đầu tư, đơn giá xây dựng, giải phóng mặt bằng, đẩy nhanh tiến độ triển khai các công trình, dự án.

2.3. Nâng cao chất lượng đi đôi với tăng cường hơn nữa công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa - xã hội; giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc; nâng cao đời sống nhân dân.

          - Tăng cường đầu tư phát triển giáo dục & đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

          - Hoàn thiện các thiết chế văn hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền.

          - Tập trung đầu tư, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.

          - Tăng cường chuyển dịch cơ cấu lao động đáp ứng yêu cầu việc làm; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

Với định hướng như vậy, huyện cũng đã đề ra một số chính sách để thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội như: Thực hiện có hiệu quả tổng lực các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thu hút đầu tư; đối với nông thôn tạo mọi điều kiện thu hút các hoanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này, hình thành chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng phát triển nông thôn mới. Tạo cơ chế thuận lợi nhất để doanh nghiệp được tiếp cận và hưởng các chính sách hỗ trợ của Trung ương, tỉnh, huyện, khuyến khích đầu tư sản xuất kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng. Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo nhằm phát huy mọi nguồn lực đầu tư; thực hiện liên kết đào tạo với một số cơ sở có uy tín trong nước và quốc tế, đa dạng hoá các loại hình trường lớp và hình thức học tập. Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên các cấp đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, tâm huyết với nghề nghiệp; thực hiện tốt các đề án dạy nghề nhằm đào tạo đội ngũ lao động có trình độ, tạo ra nhiều việc làm mới và đẩy nhanh xuất khẩu lao động. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh lao động kỹ thuật, chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề truyền thống và các lĩnh vực dịch vụ./.

Chương trình công tác của UBND

Tin nội bộ

Tin nội bộ

Xem thêm